BS Trần
Văn Tích
Ngày 6 tháng 2 năm Quí dậu 1813, Nguyễn Du vượt ải Nam quan, cùng hai mươi sáu người khác chính thức đặt chân lên đất nhà Thanh. Những bài thơ sáng tác trong thời gian đi sứ vào hai năm 1813 và 1814 đó, tức là những bài trong Bắc hành tạp lục, gần như tạo thành một tập bút ký ghi chép sự việc và cảm nghĩ dọc đường của tác giả Truyện Kiều. Riêng về khía cạnh thù tiếp sứ bộ, người Tàu tỏ ra chú tâm chiêu đãi trọng thể khách ngoại quốc. Và Nguyễn Du từng có dịp được thưởng thức một số món ngon vật lạ, hoặc ít ra thì cũng được ăn uống rất đầy đủ. Như ở trạm Tây hà, đoàn đi sứ được cung đốn gân hươu, vây cá, thịt lợn, thịt dê, đầy tràn mâm cỗ, khiến chẳng những các quan lớn không chọc đũa đến mà kẻ tùy tùng cũng chỉ nhấm nháp qua loa rồi đổ cho chó hàng xóm, mà chó cũng ớn không buồn ăn:
Tạc
tiêu Tây hà dịch,
Cung cụ hà
trương hoàng.
Lộc cân tạp
ngư sí,
Mãn trác trần
trư dương.
Trưởng
quan bất hạ trợ,
Tiểu
môn chỉ lược thường.
Bát
khí vô cố tích,
Lân cẩu yếm
cao lương.
(Sở
kiến hành)
(Đêm qua ở trạm Tây hà,
Mâm cỗ cung
đốn sao mà linh đình.
Nào là gân hươu
vây cá,
Đầy bàn
thịt lợn thịt dê.
Các quan lớn
không đụng đũa,
Kẻ tùy tùng
chỉ nếm qua.
Đổ bỏ
đi không hề tiếc,
Chó hàng xóm cũng
chê thức ngon).
(Những điều trông thấy)
Ở thành Thái bình, sứ bộ được tiếp tế gạo thịt đầy thuyền, mâm cỗ sang trọng, thành viên phái đoàn ngoại giao ăn uống thoả thuê, thực phẩm dư thừa vứt đổ xuống sông:
Quân
bất kiến sứ thuyền triêu lai cung đốn lệ,
Nhất
thuyền, nhất thuyền doanh nhục mễ.
Hành nhân bão thực
tiện khí dư,
Tàn
hào lãnh phạn trầm giang để.
(Thái
bình mại ca giả)
(Kìa không thấy lệ cung đốn
cho đoàn đi sứ,
Thuyền này
thuyền kia đều đầy gạo thịt.
Mọi người
ăn uống thỏa thuê còn thì bỏ,
Cơm thừa
canh nguội đổ cả xuống sông)
(Người hát rong ở Thái bình)
Hoàn thành sứ mệnh, trên đường trở lại quê hương, qua huyện Quảng tế tỉnh Hồ bắc, sứ thần cũng được phục dịch đầy đủ tiện nghi cư trú và ẩm thực:
Tất
bồn dục điếm khuynh phì tạo,
Ngọc thủ
Hồ cơ khoái tế lân.
(Quảng tế
ký thắng)
(Chậu sơn nhà tắm chứa đầy
chất thơm,
Tay ngọc gái
Hồ thái nhỏ cá gỏi)
(Ghi cảnh đẹp ở Quảng tế)
Nhưng Nguyễn Du không được thường xuyên hưởng thụ cao lương mỹ vị và hành trình của sứ bộ cũng không phải luôn luôn suôn sẻ. Nhiều lần phái đoàn bị nghẽn đường vì thuỷ tai hoặc nội loạn. Vừa băng dòng Minh giang chia ranh giới giữa Việt nam và Trung quốc, đã gặp lụt mới đổ về (Minh giang chu phát, Đi thuyền trên Minh giang). Lên phía bắc, xuôi ghềnh Đại than, lại sống cảnh nước lũ tràn bờ, phủ lấp mênh mông (Vãn há Đại than, tân lạo bạo trướng, chư hiểm câu thất, Chiều thuyền xuôi ghềnh Đại than, nước lũ dâng cao, ngập cả những chỗ hiểm trở). Vào đất Hà nam, vừa vượt qua Hoàng hà sau năm ngày nhịn đói do nước sông lên to thì không đi được nữa vì lương dân nổi dậy:
Tạc
nhật Hoàng hà thủy đại chí,
Ngũ nhật
vô thực thê sa đinh.
(Hôm qua nước Hoàng hà lên to,
Năm ngày không ăn trên bờ cát)
trong khi quần chúng bản địa nuốt tấm cám thay cơm, nhặt rau lê nấu canh; vậy mà sứ bộ cũng vẫn thấy có người chết đói:
Khang
tì vi thực lê vi canh,
Nhãn kiến cơ
biểu tử đương đạo.
(Trở
binh hành)
(Tấm cám làm cơm, rau lê làm canh,
Mắt thấy
người chết đói giữa đường)
(Bài hành binh đao làm nghẽn đường)
Nhiều bài thơ của vị sứ thần họ Nguyễn nói đến chuyện gặp lũ lụt. Dòng Tầm giang ở huyện Quế bình tỉnh Quảng tây chảy qua Thương ngô đổ vào Quế giang dâng nước vượt bờ lênh láng tràn ngập các tỉnh Hồ nam Hồ bắc:
Nhất
giang tân lạo bình Tam Sở,
Đại bán
phù vân trú Cửu nghi.
(Thương
ngô mộ vũ)
(Lụt mới đổ về, nước
sông tràn cả đất Tam Sở,
Già nửa tầng
mây quanh quất ở núi Cửu nghi)
(Mưa chiều ở Thương ngô)
và: Tân lạo sơ thiêm
tam xích thủy,
Phù vân bất
biện Cửu nghi sơn.
(Thương
ngô tức sự)
(Lụt mới đổ về, nước
cao thêm ba thước,
Mây che không
nhìn rõ núi Cửu nghi)
(Nói về sự vật Thương ngô)
và: Quế lâm tân lạo
dũng trường xuyên,
Thủy ốc
bằng cao dục thướng thiên.
(Thương
ngô Trúc chi ca)
(Quế lâm vừa lụt to, nước
sông dâng lên cuồn cuộn,
Nhà bè trên
sông nổi cao như muốn đến tận trời)
(Bài ca Trúc chi ở Thương ngô)
* * *
Gặp cảnh lũ lụt như vậy, để sống sót, nhà ngoại giao thi sĩ của chúng ta đành chấp nhận những món ăn không hợp khẩu vị chút nào, cố gắng nuốt vào dạ dày những thực phẩm như bánh gạo mạch và thổ cẩu. Bài Hoàng hà trở lạo (Mắc lụt bên Hoàng hà) ghi nhận rằng:
Mạch
cao thổ cẩu nan vi thực,
Lạc
ngạnh phiêu bình thất tự mưu.
(Bánh
gạo mạch và thổ cẩu khó nuốt,
Cành trôi bèo nổi, chẳng mưu được việc)
Thơ chữ hán Nguyễn Du do
Lê Thước, Trương Chính sưu tầm, chú thích,
phiên dịch, sắp xếp cùng với mười cộng
tác viên khác, Nhà Xuất bản Văn học, Hà nội,
bản in lần thứ hai, 1978, trang 350, giảng giải
hai chữ thổ cẩu như sau: “3. Thổ
cẩu: con dê đất. Nhưng theo Từ nguyên
thì đó là một loài quái vật ở nước hình
giống con dê. Xưa có người đào giếng
bắt được một quái vật, không hiểu
con gì, đến hỏi Khổng tử. Ông này trả
lời đó là loài dê. Ở đây chỉ một
giống vật lạ do nước lụt mang đến.“
Tôi chép lại nguyên văn và nguyên dạng chú thích số
3, kể cả hàng chữ in nghiêng, mà tôi không rõ tại
sao lại phải in như vậy, có thể chỉ là lỗi
ấn loát. Nhưng tuy thế, câu chú thích vẫn
còn một số điểm bất ổn. Dựa vào
tài liệu nào nhóm chủ biên cho rằng thổ cẩu
là dê đất? Và đã hiểu như vậy tại
sao lại còn “nhưng“ để rồi đan cử Từ
nguyên?1.
Vả lại Từ nguyên không đề cập gì
đến câu chuyện Đức Khổng phu tử
được tham vấn. Huống chi, đã là dê,
cho dù là dê đất, thì cũng đâu đến nỗi
ăn không được, nuốt không trôi trong cảnh
cơ hàn lụt lội? Thịt dê từng được
xem là thực phẩm quí để thù tiếp sứ bộ
ở Tây hà theo bài Sở kiến hành cơ mà! Từ
nguyên ghi cho thổ cẩu ba nghĩa: 1. một
loài quái vật truyền thuyết; 2. một thứ
túi, đẫy trước hẹp sau rộng, trước
cao sau thấp giống hình con chó ngồi trên mặt
đất nên có tên thổ cẩu; 3. tên riêng
của lâu cô (lâu cô đích biệt danh).
Chỉ có nghĩa thứ ba này là thích hợp với bài
thơ Nguyễn Du vì sứ bộ, dẫu đang đói,
không thể dùng một con vật truyền thuyết hay một
cái bị đeo lưng để làm thực phẩm.
Huống chi dân Á châu nói chung, dân Trung hoa nói riêng, vốn
vẫn có thói quen ăn các loại côn trùng động vật
nhỏ bé (cả hai chữ lâu cô đều
được viết với bộ trùng). Cậu
bé Nguyễn Du, lớn lên ở Sơn Nam Hạ trong vùng
đồng lầy chiêm trũng, hẳn đã từng
cùng đám trẻ con đồng tuổi bắt dế
cơm, niềng niễng, cà cuống, cào cào, rầy mè về
nướng hay rang ăn. Thiều Chửu trong Hán
Việt từ điển giảng: “Lâu cô: con dế,
một thứ sâu ở lỗ giống như con dế mèn,
rất làm hại lúa và nho.“ Theo Das neue chinesisch-deutsche
Woerterbuch thì lâu cô là Maulwurfgrille, Grille là dế
mèn, Maulwurf là chuột chũi, như vậy lâu cô là
dế chũi. Tiếng Pháp cũng có cấu trúc từ
ngữ tương tự: taupe-grillon, nhưng cũng
có tên khác là courtilière. Từ điển Hán-Việt,
Hầu Hàn Giang, Mạch Vĩ Lương đồng
chủ biên, giảng lâu cô là dế dũi, dế
nhũi. Cả hai bộ từ điển bách khoa Hán
ngữ đại từ điển và Trung văn
đại từ điển đều ghi cho thổ
cẩu nghĩa tên riêng của lâu cô, bên cạnh
hai nghĩa khác2.
Cả Mathews’Chinese English Dictionary lẫn A
Chinese-English Dictionary của Herbert A. Giles đều
cùng ghi cho thổ cẩu một nghĩa duy nhất
(và thống nhất) là the mole-cricket. Tên khoa học của
thổ cẩu là Gryllotalpa vulgaris L. , Gryllotalpa
africana Palisot de Beauvois, Gryllotalpa unispina Saussure, họ
Grillotalpidae.
Thổ cẩu còn có nhiều tên khác bên cạnh tên lâu
cô, được ghi trong nhiều tài liệu văn học,
dược học: Khế, Thiên lâu (Bản kinh), Lâu quắc
(Nguyệt lệnh), Tiên cô, Thạch thử (Cổ lệnh
chú), Ngô thử (Cẩu tử), Châm thử, Thổ câu
(Hoàng Hán dược khảo)3.
Lâu cô đã được bộ sách thủy tổ
các cuốn bản thảo, Thần Nông bản thảo
kinh, cũng gọi là Bản thảo kinh, Bản kinh
ghi nhận. Lâu cô được xem là hạ
phẩm, bao gồm các dược liệu có độc tính.
Lý Thời Trân đời Minh, tác giả cuốn Bản
thảo cương mục, thì xếp lâu cô vào
nhóm hoá sinh trùng loại.
Tên thổ cẩu là tên được Phổ
tế phương ghi4.
Hồng Nghĩa giác tư y thư của Thiền
sư Tuệ Tĩnh nước ta, bài Nam dược quốc
âm phú, ghi “Dế dũi gọi lâu cô. “ Trong Hải
thượng y tông tâm lĩnh, tập Lĩnh Nam bản
thảo, quyển Thượng, mục Côn trùng
loại, Lãn Ông Lê Hữu Trác cho biết (nguyên văn
chữ hán, dịch sang quốc ngữ): “Lâu cô tục
gọi là con dế nhũi, một tên nữa là thổ
cẩu. “ Liêu Trai chí dị của Bồ Tùng
Linh có câu chuyện Xúc chức (Con dế). Chuyện
kể về một ông vua thích đá dế, quan lại
các cấp đua nhau cung tiến dế để mong
được vua ân sủng, còn bọn cường hào
địa phương thì nhân cơ hội đó ra tay vơ
vét, tạo nên thảm cảnh nhà tan cửa nát, người
chết trong dân gian. Nguyên tác có câu: “Thị chi,
hình nhược thổ cẩu, mai hoa sí, phương thủ
truờng hỉnh. “ (Nhìn kỹ thì hình giống thổ
cẩu, cánh tựa hoa mai, đầu vuông cẳng dài).
Dế mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài cũng giới
thiệu dế trũi bên cạnh nhân vật chính dế
mèn. Dế trũi thuộc loài côn trùng cánh thẳng
(trực sí loại), màu nâu, lớn khoảng 4-5 cm,
có hai càng trước rất phát triển để
đào ngạch khoét lỗ, tạo thành những
đường hầm dưới đất, vì vậy
làm hại nương vườn. Theo Trung y, tính chất
thổ cẩu hàm hàn vô độc, công dụng
thông hành thủy, giải độc, hạ ngạnh
ế, lợi nhị tiện, trị thập chủng thủy
bệnh.
Với dế trũi, văn chương chữ hán đối xử có phần thiên vị nếu so với dế mèn, vì dế trũi không có tài âm nhạc thiên phú. Ngay trong thơ chữ hán Nguyễn Du, nghệ sĩ dế mèn từng được nêu tên qua bài Dạ toạ (Ngồi trong đêm):
Tứ
bích cung thanh náo dạ miên,
Ải sàng di hướng
khúc lan biên.
(Đêm dế
kêu quanh bốn vách rộn giấc ngủ,
Dời chiếc chõng lại cạnh lan can)
Tương An quận vương cũng vì tiếng dế mà khó ngủ:
Giai
biên cung tức tức,
Sầu sát vị
miên nhân.
(Thu dạ)
(Bên thềm dế ti tỉ,
Người buồn
rầu không ngủ)
(Đêm thu)
Tiền nhân thường xem nhạc tấu dế mèn là âm thanh quen thuộc của mùa thu. Trong Cúc thu bách vịnh, Phan Huy Ích viết:
Hạc
ảnh hoành không tỉnh Xích bích,
Cung thanh bán dạ
động Âu Dương.
(Bóng hạc ngang trời, tỉnh mộng
Xích bích,
Tiếng dế nửa đêm, chạnh lòng Âu Dương)
Đoàn Nguyễn Tuấn còn dành riêng cả một bài thất ngôn tứ tuyệt cho dế mèn: Thu suất (Dế mùa thu).
Ngay cả khi các nhà thơ chỉ nói đến tiếng côn trùng trong nguyên tác chữ hán thì chúng ta ngày nay cũng có khuynh hướng hiểu rằng đấy là tiếng dế. Ví dụ và vẫn thơ Nguyễn Du, bài Thu dạ (Đêm thu):
Phồn
tinh lịch lịch lộ như ngân,
Đông bích hàn trùng bi cánh tân.
được các soạn
giả Thơ chữ hán Nguyễn Du (tlđd, trang
74) dịch nghĩa:
Sao dày và rõ mồn
một, sương trắng như bạc,
Vách phía đông,
dế gặp lạnh, kêu buồn thảm, chua xót. 5
hoặc thơ Đào Tấn, bài Thu tịch (Đêm thu):
Phong
điền lạc vi minh,
Lộ
diệp lưu huỳnh độ.
được dịch nghĩa là:
Cành gió rì rào như dế nỉ non,
Lá sương
treo lấp lánh như đom đóm bay.
và dịch thành thơ:
Rì rào cành
gió nghe như dế,
Chiếc lá sương treo như đóm bay. 6
Trong cả hai bài thơ vừa kể, các từ ngữ hàn trùng và minh không có từ ngữ nào trực tiếp nói đến con dế. Ký thác con tim người vợ có chồng đi đánh trận xa qua âm thanh ngoại giới, tổ tiên khổ công vận dụng từ vựng hán ngữ nhằm tránh trùng lặp khi viết và dịch về nhạc dế. Tất cả chỉ trong một đoạn văn ngắn ngủi, Đặng Trần Côn dùng ba chữ cung, hậu trùng và tất suất: Cung thanh tế vũ trung / Hàn viên hậu trùng / Tất suất sổ thanh nguyệt; còn người dịch thì chuyển thành Cành cây sương đượm, tiếng trùng mưa phun (câu 216) / Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi (câu 220) / Vài tiếng dế, nguyệt soi trước ốc (câu 221). Nếu biết rằng chữ hậu trong hậu trùng là chữ hậu của khí hậu, là chữ hậu để chỉ con sâu kêu theo thời tiết; nếu biết rằng tránh trùng lặp như vậy trong một đoạn văn ngập tràn điệp ngữ, thì càng thấy người xưa trân quí ngôn ngữ như thế nào!
Tóm lại, Nguyễn Du cùng phái
bộ gặp lũ lụt triền miên, không còn
được tiếp tế món ngon vật lạ mà chỉ
được địa phương cung cấp dế
nhũi làm nguồn prôtêin trong cảnh cơ hàn. Chứ
chẳng làm gì có chuyện dê đất như nhóm biên
soạn và chú thích Thơ chữ hán Nguyễn Du hiểu.
Và “giống vật lạ do nước lụt mang đến“
thật ra chẳng lạ chút nào. Lũ lụt ngập
hang ngập lỗ của dế chũi, chúng chui ra
hàng loạt, bị người Trung hoa bắt về, có
nhiều phần chắc là để rang muối, mời
vị sứ thần thi hào xơi tạm. Và nhà thơ
của chúng ta tuy thuở bé có lẽ đã từng thưởng
thức cà cuống, niềng niễng nhưng chưa nếm
mùi dế trũi nên mới thấy khó nuốt, dù là
đang lúc đói lòng. Hơn nữa, thói quen ăn uống
cũng đã thay đổi theo cùng tuổi tác và địa
vị.
* * *
Cũng đề cập đến thực phẩm nhưng dùng cho súc vật, Nguyễn Du vận dụng cú pháp đảo trang để nói về cây mục túc qua bài Đại nhân hý bút (Thay người khác viết đùa) trong Thanh Hiên thi tập:
Mục
túc thu kiêu kim lặc mã,
Bồ đào
xuân tuý ngọc lâu nhân.
(Mùa thu ngựa đeo giàm vàng kiêu hãnh
ăn mục túc,
Ngày xuân người trong lầu ngọc uống rượu bồ đào say mềm)
Nhóm biên soạn Thơ chữ hán Nguyễn Du chú thích: “1. Mục túc: một loại đậu dùng làm thức ăn cho súc vật hoặc làm phân bón. “ Có nhiều phần chắc nhóm biên soạn không rõ mục túc là cây gì, đừng nói chi đến đã có dịp nhìn tận mắt cây mục túc.
Trước Nguyễn Du, và để than cảnh nghèo, Nguyễn Trãi viết bài thơ chữ hán Ký hữu (Gửi bạn) cũng đan cử mục túc:
Thập
tải độc thư bần đáo cốt,
Bàn vô mục
túc toạ vô chiên.
(Mười năm đọc sách nghèo
đến xương,
Trong mâm chẳng có mục túc, ngồi không lót chiên)
Chư vị nghiên cứu văn học ở trong nước, vì không biết đích xác mục túc là cây gì nên chú thích huê dạng, đọc rất vui. Đào Duy Anh, chú giải bài thơ Ký hữu, đã viết như sau7: “Mục túc là một thứ rau đậu tầm thường, người ta dùng để ăn chay hay là dùng cho gia súc ăn, cũng dùng làm phân xanh (. . . ) Chúng tôi theo ý mà lấy rau muống thay vào món mục túc của Trung quốc. “ Bởi thế nhà biên khảo quá cố dịch thành thơ:
Đọc sách
mười năm mà kiết xác,
Ăn tràn rau
muống, chẳng chiên ngồi.
Ông Nguyễn Quảng Tuân, trên Tạp
chí Hán Nôm số 2. 1989, trang 22, lại nhận xét: “Cây
mục túc mà lấy rau muống gọi thay vào thì cũng
không hợp vì nó là một loài cây leo mọc lan tràn
trên mặt đất, lá nhỏ như lá rau ngót, hoa màu
vàng, dùng cho trâu bò và ngựa ăn thay cỏ. Lá non
thì người ta hái để ăn, nấu canh như nấu
canh rau ngót nên nếu có gọi thay thì dùng rau ngót còn
đúng hơn là rau muống. “ Đào Duy Anh còn sửa
lại câu thơ Nguyễn Trãi thành Bàn duy mục túc
toạ vô chiên và có biện bạch ở phần Chú
thích tại sao lại sửa như thế (thay chữ
vô thứ nhất bằng chữ duy). Tuy
nhiên các văn bản cổ (như Ức Trai tập, bản
chữ hán trang 11a) đều chép Bàn vô mục túc toạ
vô chiên. Bản phiên âm tiếng Việt, Phủ
Quốc vụ khanh Đặc trách Văn hoá xuất bản
tại Sàigòn năm 1971, trang 78, phiên thành Bàn vô mộc
túc, toạ vô chiên. Phiên như thế cũng
đúng, nhưng chúng ta vốn đã quen đọc và viết
là mục túc.
Nguyễn Khuyến cũng nhắc đến mục túc qua bài Chử thần tiên nhục (Nấu món thịt thần tiên):
Sở
dĩ Chung Nghi thao thổ âm,
Sở dĩ Quảng
văn quí mục túc.
[Cho nên (nhạc quan) Chung Nghi đàn âm
điệu quê hương,
Cho nên (nhà giáo) Quảng văn quí rau mục túc]
Mục túc thành nổi tiếng nhờ bài Tự điệu (Tự xót thương) của Tiết Lệnh Chi đời Đường mô tả cảnh sống thiếu thốn của ông thầy (hình dung giáo sư kiệm phác chi sinh hoạt dã)8:
Triêu
nhật thượng đoàn đoàn,
Chiếu kiến
tiên sinh bàn.
Bàn trung hà sở
hữu,
Mục túc trường
lan can.
Phạn
sáp thi nan tiến,
Canh hy trợ dị
khoan.
Vô khả mưu
triêu tịch,
Hà do bảo tuế
hàn.
(Buổi
sáng mặt trời lên tròn tròn,
Chiếu vào
mâm cơm của thầy.
Trong mâm có gì
đâu,
Có mục túc
dài như lan can.
Cơm hẩm
muỗng khó vét,
Canh loãng
đũa dễ khoắng.
Không lo đủ
hai bữa,
Làm sao chống được lạnh)
Thành ngữ mục túc bàn dã trở thành điển tích văn học chữ hán để chỉ sinh hoạt kiệm ước của giới đi dạy học.
Ở châu Âu, cây mục túc tuy không mọc tràn lan nhưng cũng rất phổ biến. Người da trắng không xem nó là rau và ở trong thiên nhiên thì nó không phải là cây leo.
Chuyện mục túc khá
dài. Theo Sử ký Tư Mã Thiên, phần Đại
Uyển liệt truyện, chương Đại Uyển,
thì niên hiệu Kiến Nguyên đời Hán Vũ
đế (140-87 tr. CN), Trương Khiên
đương làm quan lang được cử đi sứ
Tây vực, qua các nước Nhục chi, Hung nô. Theo
Tư Mã Thiên, ở về phía tây-nam nước Hung nô,
có nước Đại Uyển, cách đất Hán
ước chừng một vạn dặm. Nếp sống
ở đây quê mùa, dân lấy việc cày cấy làm nghề
chính, họ trồng lúa tẻ lúa nếp; sản vật
có nhiều rượu nho, nhiều ngựa tốt.
Cho nên con ngựa hãn huyết bảo câu trong Anh
hùng xạ điêu, loài ngựa hãn huyết bửu
mã trong Ân thù kiếm lục của Kim Dung hoặc
những con ngựa chiến của các bài thơ Đỗ
Phủ Tẩy binh mã (Rửa vũ khí), Phòng binh
Tào Hồ mã (Ngựa Hồ của ông Tào binh Phòng)
đều có quê quán là nước Đại uyển.
Trên bản đồ thế giới hiện đại,
Đại uyển là Fergana ở Ouzbékistan, một nước
cộng hoà thuộc Liên bang xô viết cũ.
Từ
điển Pháp ngữ Dictionnaire encyclopédique universel, Précis,
Paris, 1996, ghi ở mục từ Ouzbékistan: “L’irrigation
assure la prospérité agricole: fruits, primeurs, riz, luzerne, vigne et,
surtout, coton. “ (Phép dẫn thuỷ bảo đảm canh
nông thịnh vượng: trái cây, hoa quả đầu mùa,
lúa, mục túc, nho và nhất là bông vải). Từ
Đại uyển trở về, Trương Khiên mang
theo nhiều giống cây ngoại chủng trong số có mục
túc mà ngôn ngữ nguyên quán gọi là buksuk, theo cả
Từ Hải lẫn Hán ngữ đại từ
điển (cổ Đại uyển ngôn buksuk đích
âm dịch). Sách Thuật dị ký cũng khẳng
định mối liên hệ giữa Trương Khiên
và mục túc. Như thế, nước Tàu nguyên
không có mục túc và đã di thực cây này từ Tây vực.
Theo Tây kinh tạp ký, mục túc còn có tên hoài
phong, quang phong; người vùng Mậu Lăng gọi nó
là liên chi thảo. Sách thuốc chữ hán9
xem mục túc là trà loại, biệt lục thượng
phẩm. Tác giả Bản thảo cương mục,
Lý Thời Trân, xếp mục túc vào thù bộ,
nhu hoạt loại. Nó mọc hoang ở các cánh
đồng, một năm có thể cắt ba lần, cắt
rồi căn hành ở dưới mặt đất vẫn
tiếp tục phát triển. Lá có ba cánh, sắc xanh
biếc dễ thương (sắc bích khả ái).
Hoa tiểu sắc hoàng, hình tự điệp (hoa nhỏ
sắc vàng, giống hình bươm bướm). Quả
giáp có hạt như hạt tấm, có thể dùng nấu
cơm hay cất rượu. Tính chất dược
học: an trung, khinh thân, lợi ngũ tạng, thông đại
tiểu trường, khu tỳ vị gian tà nhiệt, trừ
tiểu trường chư ác nhiệt độc. Khoa
thực vật học hiện đại xếp mục
túc vào họ Papilionaceae với các tên khoa học
Medicago denticulata Willd. , Medicago sativa L. , Medicago
falcata L. Loại Medicago
sativa L. ra hoa màu tím, loại Medicago falcata L.
ra hoa màu vàng. Có lẽ đó là loại phổ biến
ở Trung hoa. Còn tên phổ thông của nó là cây luzerne,
như từ điển Pháp ngữ đã trích dẫn
trên kia ghi nhận trong thực vật chí xứ
Ouzbékistan, xứ Đại Uyển của Trương
Khiên. Cây luzerne cao chừng sáu, bảy mươi
centimét hay hơn, thân mảnh cứng, có rất nhiều
lá, lá ba cánh, hoa tím. Rễ ăn rất sâu vào lòng
đất, có khi sâu đến ba mét cho nên cây dù gặp
hạn hán lâu dài vẫn mọc khoẻ và mọc bền,
trồng tỉa và thu hoạch dễ dàng. Vả chăng
luzerne là cây đa niên nên có thể một lần trồng
mà nhiều lần nhiều năm gặt hái. Bởi
thế người Đức gọi nó là ewiger Klee (trèfle
éternel, xa trục thảo vĩnh cửu). Vả
chăng mục túc cũng mang lá kép, mỗi lá kép
có ba lá chét như xa trục thảo. Ở vùng
Detmold nơi tôi làm việc hàng chục năm trước
khi đáo hạn tuổi về hưu, có những cánh
đồng rộng lớn trồng luzerne. Tôi đã
từng đứng lặng trước những “nương
chiều“ trồng mục túc của người Nhật
nhĩ man để nhớ đến Nguyễn Du, Nguyễn
Trãi. Trong Le Comte de Monte Cristo của Alexandre Dumas,
có một chương sách mang nhan đề L’enclos à
la luzerne (Đất rào trồng mục túc), là địa
điểm Maximilien hẹn hò gặp gỡ người yêu
Valentine. Luzerne chỉ dùng cho bò ngựa, và cũng làm
phân xanh. Chứ người thì không động tới,
khác với Nguyễn Trãi và Tiết Lệnh Chi than thở.
Nguyễn Trãi và Nguyễn Du có
lẽ chưa có dịp nhìn những đám nương
trồng mục túc. Nhưng Nguyễn Trãi nhắc
đến mục túc vì truyền thống tiếp
thu điển tích văn học chữ hán, khi nói đến
cảnh nghèo thì nhớ thơ Tiết Lệnh Chi. Còn
Nguyễn Du nói đến mục túc khi mô tả ngựa
chỉ vì mã thị mục túc, ngựa thích mục
túc, theo Sử ký, Đại Uyển liệt truyện hoặc
mã hàm mục túc, ngựa ngậm mục túc, như
Lưu Hiếu Nghĩa viết trong Bắc sử,
Vĩnh phong hầu thư.

Hình
lâu cô (tức thổ cẩu) và mục
túc theo "Hình âm nghĩa tổng hợp đại tự
điển" 10
*
Các tập thơ chiếm tương đối nhiều
về số lượng trong kho tàng sách vở hán nôm
triều đại nhà Nguyễn. Mà trong số các tập
thi ca thì những tài liệu có tiếng, được
giới thưởng ngoạn ưa chuộng, lại là văn
chương đi sứ. Sở dĩ như vậy là
vì một trong những tiêu chuẩn chọn sứ thần
của chế độ phong kiến là những nhà văn
giỏi, những nhà thơ hay, nếu không được
là những nhà hùng biện.
Vay mượn văn học cổ
điển Trung quốc từ tài liệu, điển cố
cho đến văn thể, các thi sĩ văn sĩ ngày
trước của chúng ta biểu hiện cảm quan,
tâm tình, tư tưởng dựa vào từ vựng hán
ngữ. Nguyễn Du, Nguyễn Trãi làm thơ theo cung cách
từng phổ biến một thời và đã
đưa vào thi ca những từ ngữ có khi rất
quen mà lại hoá ra rất lạ hoặc rất lạ
mà thực ra rất quen; nếu đem đối chiếu
với tiếng nói dân tộc. Thổ cẩu là
con vật không hề lạ đối với Nguyễn
Du, nhưng mục túc thì nhà thơ chỉ nghe nói
đến. Dẫu vậy, chúng cũng đã đi vào
thi ca thi bá chỉ vì chúng là những thành phần của
kho từ vựng vô cùng quen thuộc dưới ngòi bút
lông. Những bài thơ trong cuốn Bắc hành tạp
lục không phải là những tài liệu lịch sử,
tuy rằng chúng phần nào có mang tính ghi chép lịch sử.
Nhưng phần lớn đấy là những bài thơ
ghi lại sự từng trải của nhà thơ, từ
đó phản ảnh được diện mục sứ
trình, qua bao nhiêu nỗi buồn, nỗi sợ, nỗi khổ
sâu sắc và thấm thía. Bắc hành tạp lục
có 131 bài, Thanh Hiên thi tập có 78 bài, Nam trung tạp
ngâm có 40 bài; như vậy, so với toàn bộ thơ
chữ hán của thi bá, trong mười bốn tháng
đi sứ, Nguyễn Du sáng tác nhiều hơn mấy chục
năm ở trong nước. Đa số thi ca sứ
trình không phải là thơ vịnh cảnh mà là thơ vịnh
việc, vịnh người. Tác giả có dịp thấy
nhiều chuyện, sống nhiều cảnh, do lộ
trình Nam quan-Bắc kinh-Nam quan đã dài dặc lại
quanh co vì tai trời ách nước trên xứ người.
Riêng đối với Nguyễn
Trãi thì còn có điều thú vị là vị đại
nho đã làm thơ cho rằng vì nghèo mà không có (hay chỉ
có) mục túc trên mâm thức ăn, nhưng dường
như ông không hề nghĩ rằng dẫu giàu nứt
đố đổ vách đi nữa thì cũng chẳng
có mục túc mà ăn nốt. Bởi lẽ
nước ta đâu có cây mục túc! Khiến cho hậu
duệ của ông trên trường văn trận bút
đến cuối thiên kỷ vẫn còn bàn đi tán lại
về nó tuy rằng không hề nhìn thấy bóng hình!
Con cháu của thi hào Nguyễn
Du bây giờ chỉ sử dụng bút sắt bút bi.
Nhưng cũng nhờ vậy mà các kiến thức hiện
đại mới được vận dụng để
hiểu rõ thêm cách sống lối nghĩ của ngòi bút
lông xưa cũ. Và có lẽ điều này cũng
là một cách để hoài Tố Như thay vì khấp
Tố Như.
Bonn, 12. 09. 2003

1
Từ nguyên là bộ từ điển do nhóm Lục
Nhĩ Khuê, Phương Nghị biên soạn và cho xuất
bản năm 1939, dựa trên các bộ tự điển,
tự thư, vận thư ra đời trước, phối
hợp với các đặc điểm ngôn ngữ học
hiện đại. Đây là bộ từ điển
ngữ văn đầu tiên bằng chữ hán, sắp
xếp các mục từ theo 214 bộ thủ như Khang
Hi tự điển. Sách được ấn hành
xuất bản nhiều lần, lưu truyền rộng
rãi. Năm 1958, Ngô Trạch Viêm, Hoàng Thu Vân, Lưu
Diệp Thu tiến hành sửa chữa hiệu đính.
Bản hiện đại do Thương Vụ ấn
thư quán xuất bản. Tôi sử dụng ấn
bản 1984, do Thủ tướng Trung cộng Triệu Tử
Dương tặng phân khoa Trung hoa học Viện Đại
học Bonn nhân dịp “đồng chí“ viếng thăm
cơ sở giáo dục này ngày 13. 06. 85. Mục từ
thổ cẩu ở trang 0584, chương sửu
130, Từ nguyên quyển 1.
2
Hán ngữ đại từ điển, La Trúc
Phong chủ biên, Tam liên thư cục (Hương cảng)
hữu hạn công ty, Hán ngữ đại từ điển
xuất bản xã liên hợp xuất bản, Joint
Publishing Co. , Ltd. , Hongkong, 1988,
quyển 2, tr. 986-987. Trung văn đại
từ điển, Chủ nhiệm ủy viên Trương
Kỳ Hu, Trung quốc Văn hoá Nghiên cứu sở,
Trung hoa dân quốc ngũ thập nhị niên nhị nguyệt
xuất bản, The Encyclopedic Dictionary of the Chinese
Language, The Institute for Advanced Chinese Studies, Feb. 1963, quyển
7, tr. 261, mục từ số 4975-145. Hai bộ từ
điển này ghi cho thổ cẩu nghĩa thứ
nhất là: “phần dương dã“, dê ở vùng mồ
mả. Có thể vì thế nên các soạn giả Thơ
chữ hán Nguyễn Du giảng thổ cẩu là
dê đất.
3
Trần Tồn Nhân. - Trung quốc dược học
đại từ điển. Thượng Hải
ấn thư quán. Hương cảng. 1962.
Quyển hạ. Mục từ lâu cô, trang 889.
4
Phổ tế phương là tài liệu hàm súc nhất
về phương tễ học đời Minh, do hoàng
tử Chu Túc tức Chu Định Vương chỉ
đạo biên khảo, do Đằng Thạc và Lưu
Thuần cùng một số cộng tác viên trực tiếp
chấp bút. Sách tổng kết tất cả các phương
thuốc của đời trước, chia làm 140 loại,
đề cập đến 1. 960 chuyên luận và 2. 175
chuyên đề, với 778 qui tắc trị liệu và
239 biểu đồ. Tổng số phương tễ
được liệt kê là 61. 739 bài thuốc, mà một
nửa nay đã thất truyền. Phần còn lại
được đưa vào Tứ khố toàn thư
đời Thanh.
5
Quách Tấn trong Tố Như thi trích dịch, An
Tiêm xuất bản, Paris, 1995, tr. 51-53, dịch nghĩa
hai câu này như sau:
Sao dày và rõ mồn
một, sương như bạc,
Tường
đông tiếng hàn trùng buồn lại xót.
nhưng
khi dịch thơ thì lại thành:
Sao vàng lấp
lánh ánh sương dày,
Dế khóc tường
đông dọng đắng cay.
6
Vũ Ngọc Liễn chủ biên. - Thơ và từ
Đào Tấn. Nhà Xuất bản Văn Học.
Hà nội. 1987. tr. 130-131.
7
Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam. Viện Sử
học. Nguyễn Trãi toàn tập, in lần thứ
hai có sửa chữa và bổ sung. Nhà Xuất bản
Khoa học xã hội. Hà nội. 1976. tr.
272 và tr. 666.
8
Trung văn đại từ điển, tlđd, quyển
28, tr. 12156, mục từ số 31519-1.
9
Trung quốc y học đại từ điển.
Vũ Tiến Tạ Quan biên soạn. Thương
Vụ ấn thư quán xuất bản. Hương
cảng. 1963, quyển 2, tr. 1953.
10
(Chính Trung) Hình âm nghĩa tổng hợp đại tự
điển. Cao Thụ Phiên biên toản, Vương
Tu Minh hiệu chính. Chính Trung thư cục phát hành
ấn loát. Đài loan Đài bắc. Trung hoa
dân quốc lục thập lục niên bát nguyệt tăng
đính nhị bản, tr. 1469 (mục túc) và
tr. 1604 (lâu cô tức thổ cẩu).